ĐỀ ÁN CHUYÊN NGHIỆP HOÁ NGƯỜI NÔNG DÂN
Đơn vị thực hiện :

- Liên Danh Công Ty Cổ Phần Nông Nghiệp Công Nghệ Cao - Công Ty Bạch Đằng - Bộ Công An

- Công Ty CP TM DV Mê Kông
- Sở NN&PTNT Thành Phố Cần Thơ
- Phòng NN&PTNT Thới Lai,Cờ Đỏ
-  UBND xã Đông Thắng, Đông Bình

 

 Địa điểm mô hình : phân Sinh Học Bồ Đề 688 ( nguyên liệu nhập khẩu từ Mỹ) trên cây lúa tại huyện Cờ Đỏ và Thới Lai, Tỉnh Cần Thơ  trong vụ Hè Thu từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2013.

Phạm vi thí điểm : mô hình thí điểm được thực hiện trên đồng ruộng thuộc ấp Thới Hiệp I, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ và ấp Đông Thới, xã Đông Bình, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ
Thời điểm : Hè Thu từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2013.

 

I. GIỚI THIỆU "

  1. 1.     ĐẶT VẤN ĐỀ

Lúa (Oryza sativa) là cây trồng quan trọng cho hơn một nửa số dân trên thế giới và là loại cây cung cấp lương thực quan trọng nhất trong bữa ăn hàng ngày của hàng triệu người. Việt Nam là một nước nông nghiệp, có hơn 50% thu nhập quốc dân là do nông nghiệp tạo ra. Trong đó, cây lúa là cây trồng quan trọng và có vai trò chiến lược trong nền kinh tế nước ta. Cây lúa không chỉ giải quyết vấn đề lương thực hàng ngày cho nhân dân mà còn là nguồn xuất khẩu quan trọng thu ngoại tệ, là nền tảng để xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp. Diện tích đất nông nghiệp hiện nay chỉ có hơn 9 triệu ha, trong đó có trên 4 triệu ha đất trồng, tuy nhiên diện tích này lại đang giảm một cách nhanh chóng.

Đối mặt với tình hình dân số hiện nay 85,154 triệu dân (Niên giám thống kê 2007) và tất cả người Việt Nam đều sử dụng lúa gạo làm lương thực chính. Vì vậy, để đảm bảo chiến lược an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu, nông dân phải canh tác lúa 3 vụ/ năm và sử dụng phân bón hóa học với số lượng lớn nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa; chủ yếu là phân đạm, lân và kali đều này làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm và làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân (Stoltzful et al., 1997). Trong đó phân đạm được sử dụng nhiều nhất vì đạm là nguồn dinh dưỡng chính cho cây trồng. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có 30 % lượng đạm bón vào đất được cây hấp thụ, lượng đạm còn thừa sẽ thất thoát ra môi trường. Điều đó không những dẫn đến chi phí cao mà còn gây hiệu ứng nhà kính và tổn hại hệ sinh thái.

  1. 2.     MỤC TIÊU THÍ ĐIỂM

Nhằm đánh giá hiệu quả của phân bón sinh học Bồ Đề 688 đối với năng suất lúa, góp phần giảm lượng phân bón hóa học cải thiện độ phì nhiêu cho đất.

Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về việc phát triển hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ phân bón sinh học vô cơ vào sản xuất nông nghiệp cụ thể là trên cây lúa trong điều kiện đồng ruộng.

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa bằng cách sử dụng phân bón sinh học vô cơ thế hệ mới.

  1. 3.     ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI THÍ ĐIỂM

Mô hình thí điểm được tiến hành trên sản phẩm phân bón sinh học Bồ Đề 688 cùng với giống lúa OM 4218.

Phạm vi thí điểm: mô hình thí điểm được thực hiện trên đồng ruộng thuộc ấp Thới Hiệp I, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ và ấp Đông Thới, xã Đông Bình, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ trong vụ Hè Thu từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2013.

  1. 4.     NỘI DUNG THÍ ĐIỂM

Đánh giá hiệu quả của sản phẩm phân bón sinh học Bồ Đề 688 trên giống lúa OM 4218 bao gồm : chỉ tiêu phân tích đất trước khi trồng lúa; chỉ tiêu nông học của lúa ở các giai đoạn 14 ngày, 28 ngày, 49 ngày, lúc lúa chín; chỉ tiêu năng suất lúa cuối vụ.

II. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1. SƠ LƯỢC VỀ CÂY LÚA

a. Phân loại khoa học

Giới (regnum) : Plantae

Ngành (divisio) : Magnoliophyta

Lớp (class) : Liliopsida

Bộ (ordo) : Poales

Họ (familia) : Poaceae

Chi (genus) : Oryza (Takane Matsuo et al., 1995)

b. Nguồn gốc và phân nhóm lúa

- Nguồn gốc

Cây lúa (Oryza sativa) thuộc họ Peaceae có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Phi, châu Á.

- Phân nhóm lúa

Lúa hiện tại được chia làm hai loại : Japonica và Indica có những đặc điểm khác biệt. Lúa Japonica sinh trưởng ở điều kiện khí hậu ôn hòa, có hạt tròn khó bị gãy hoặc vỡ, khi nấu chín loại gạo này thường dính và dẻo. Lúa Indica thường sinh trưởng và phát triển ở vùng khí hậu nóng ẩm, có hạt gạo thường dài và dễ bị vỡ, khi nấu thường không bị kết dính. Tất cả các loại gạo có nguồn gốc từ Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam và miền nam Trung Quốc là lúa Indica.

c. Đặc tính giống lúa OM 4218

  • Ø Nguồn gốc: giống lúa OM 4218 được chọn từ tổ hợp lai OM 2031/MTL 250, là giống lúa triển vọng mới được giới thiệu.
    • Đặc tính:

     Bảng 1: Đặc tính giống lúa OM 4218


Tên giống lúa

OM 4218

Thời gian sinh trưởng (ngày)

90 – 95

Đặc tính

  • Chiều cao cây : 85 - 90 cm
  • Đẻ nhánh khá, dạng hình còn phân ly; bông dài, khoẻ, lá cờ nhỏ, ngắn
  • Hơi nhiểm bệnh cháy lá (cấp), nhiễm rầy nâu (cấp 5-7)
  • Trọng lượng 1.000 hạt : 25,1 gram. Hạt gạo dài, trong, vỏ trấu mỏng.

Năng suất

Bình quân: 6-8 tấn/ha ; thích nghi cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu.

Nguồn : (Trung tâm giống nông nghiệp Đồng Tháp, 2011)

3. Vai trò của các chất dinh dưỡng đối với cây lúa

Để phát triển cây lúa cần nhiều loại dưỡng chất khác nhau. Có những chất cây lúa cần với số lượng lớn, gọi là chất đa lượng như N, P, K, Si, Ca, Mg,…có chất cây trồng với số lượng rất ít, gọi là chất vi lượng như Fe, Zn, Cu, S,…thiếu hoặc thừa một trong các chất này cây lúa sẽ phát triển không bình thường. Trong đó đạm là nguyên tố quan trọng nhất đối với cây lúa, vì đạm là chất tạo hình cho cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao, tăng số chồi, tăng kích thước thân lá. Do đó, khi dựa vào màu sắc và kích thước lá, chiều cao và khả năng nở bụi của cây lúa người ta có thể chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng đạm trong cây. (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).

Theo De Datta (1981) trong đất ngập nước cây lúa hấp thu đạm từ phân bón và đạm được cố định do tảo và các vi khuẩn dị dưỡng hay đạm được khoáng hóa từ chất hữu cơ và xác bả thực vật trong đất ngập nước.

Bảng 2: Ảnh hưởng của việc lượng đạm gia tăng cung cấp (NH4+, NO3-) ở cây lúa (Yoshida et al., 1969)

Đạm cung cấp (mg/l)

Phiến lá

Dài (cm)

Rộng (cm)

Diện tích (cm2)

Dầy (cm2)

5

49,0

0,89

30,6

4,9

20

56,1

1,13

47,8

4,1

200

60,3

1,25

56,1

3,8

Cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng sử dụng đạm dưới hai dạng chủ yếu là ammonium (NH4+) và nitrat (NO3-) nhưng phổ biến là dạng ammonium (NH4+). Cây lúa hút đạm ammonium nhanh hơn đạm nitrat. Dù vậy cây lúa vẫn không tích lũy được ammonium trong tế bào lá, lượng ammonium dư thừa sẽ kết hợp thành asparagin ở trong lá. Ngược lại, khi nồng độ NO3- trong môi trường cao thì cây lúa tích lũy nhiều NO3- trong tế bào (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).

Tùy theo giai đoạn sinh trưởng của cây lúa mà cây có nhu cầu đạm khác nhau. Ở các giai đoạn tăng trưởng thì đạm giúp cây tăng trưởng về chiều cao, tạo chồi, đẻ nhánh, tăng số lá trên cây và tăng diện tích lá. Nếu thiếu đạm cây lúa sẽ dừng hẳn lại, nở bụi ít, chồi nhỏ, lá ngắn hẹp và trở nên vàng và rụi sớm, cây lúa còi cọc không phát triển. Nếu thừa đạm cây sinh trưởng quá mức, tán lá sum xuê tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển và ảnh hưởng rất lớn đến việc ngã đổ ở các giai đoạn sau. Ở trong cây đạm chủ yếu được tích lũy trong thân, lá, khi lúa trổ có khoảng 48-71% đạm được đưa lên bông. Trong giai đoạn sinh sản, đạm có vai trò trong việc tạo ra mầm hoa, tăng số hạt trên gié, tăng số gié trên bông và còn giúp tăng số chồi hữu hiệu. Nếu thiếu đạm cây lúa sẽ thành lập bông ngắn, ít hạt, hạt nhỏ và có nhiều hạt thoái hóa. Trong giai đoạn chín thì quá trình chuyển hóa chất hữu cơ trong lá và thân diễn ra rất mạnh, lá cần gia tăng tốc độ quang hợp nhưng khi thiếu đạm thì quá trình tổng hợp diệp lục tố không xảy ra dẫn đến tốc độ quang hợp giảm. Khi đó tinh bột không đủ để chuyển vào bên trong hạt làm cho hạt bị lép nhiều.

Trong 74 nguyên tố hóa học tìm thấy trong cơ thể thực vật có 11 nguyên tố đa lượng (chiếm 99,95%), còn hơn 60 nguyên tố còn lại là các nguyên tố vi lượng và siêu vi lượng (chiếm 0,05%). Mặc dù vậy, các nguyên tố vi lượng vẫn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng. 

Trong cơ thể các nguyên tố vi lượng có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau. Nhiều kim loại, trong đó có các nguyên tố vi lượng cần cho cây như:

Bo, Mn, Zn, Cu, Fe, Mo, Co, ... đã được tìm thấy dưới dạng các phức hữu cơ-khoáng. Các phức hữu cơ - khoáng này có những tính chất cơ bản về mặt hoá học như: tính chất của các phức chất khác biệt với tính chất của các thành phần cấu tạo nên nó, phức chất có thể tham gia vào các phản ứng mà các thành phần của nó không thể tham gia được.

Ví dụ, acid boric tạo nên các phức chất với hàng loạt các chất là thành phần cấu tạo nên tế bào như: fructose, galactose, glucose, arabinose, mannose, ribose,... B tạo nên phức chất với ATP. Phức chất này dưới tác dụng của ánh sáng, tách gốc axil phosphoric dễ dàng hơn khi có một mình ATP. Có thể B làm tăng vai trò cảm quang của ATP.

 Nhiều nghiên cứu cho rằng, khi kết hợp với các chất hữu cơ, hoạt tính hoạt tính của các nguyên tố vi lượng tăng hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu lần so với trạng thái ion của nó. Ví dụ: trong phức chất, Fe không những liên kết với 4 vòng pyron mà còn cả với protein đặc thù, nên hoạt tính của nó tăng lên hàng chục triệu lần.

Oparin đã chỉ rõ ràng: 1 mg Fe liên kết trong phức chất tương đương với tác  động xúc tác của 10 tấn Fe vô cơ. Cũng như vậy, Co trong cobalamine (Vitamine B 12) Có khả năng phản ứng mạnh gấp hàng nghìn lần Co vô cơ. Phức chất hữu cơ - Cu có khả năng phân giải H2O2 nhanh hơn hàng triệu lần so với CuSO4 hay CuCl2.

Vấn đề các phức hữu cơ-khoáng, cụ thể là các phức hữu cơ-kim loại, đã có ý nghĩa đặc biệt do việc khám phá ra khả năng sử dụng các hợp chất nội phức (các chelate) vào việc chống bệnh vàng lá do thiếu Fe, cũng như các bệnh thiếu các nguyên tố vi lượng khác. Người ta sử dụng chelate-fe (Fe-EDTA: Fe-ethylen-diamine-tetra-acetic)  để chống bệnh vàng lá rấl nguy hiểm ở thực vật do thiếu Fe gây ra. Sau đó là các dạng chelat khác như: Cu-EDTA, Zn-EDTA, Mn-EDTA, Mo-EDTA,... là những loại phân vi lượng đặc biệt bón qua lá. 

 4. Sơ lược về sản phẩm phân bón sinh học Bồ Đề 688

a. Thành phần dinh dưỡng:

  • Đa lượng: N: 6%,   P2O5: 8%,   K2O: 8%
  • Vi lượng: Zn: 100ppm, Fe: 100ppm,  Mn: 100ppm, Cu: 100ppm, B: 100ppm;
  • pH: 5-7; Tỉ trọng: 1.25-1.35
  • Dung môi chiết xuất từ dầu thực vật đã được xử lý bằng công nghệ sinh học BREAK ALL SOIL của Hoa Kỳ.

b. Tính năng tác dụng

Lúa ra rễ cực nhanh, rễ trắng sáng, hút dinh dưỡng mạnh. Lá lúa mọc thẳng đứng, phiến lá dày, quang hợp mạnh. Lúa đẻ nhánh tích cực, cọng to, khỏe. Lúa trổ đồng loạt, gié lúa dài, chống nghẹn đòng. Vô gạo nhanh, hạt lúa chắc tới cậy, hạt sáng bóng, nặng ký, năng suất cao. Cải tạo đất, hạ phèn, giải độc hữu cơ, ổn định pH đất, chống đổ ngã thu hoạch cơ giới giảm chi phí sản xuất. Xua đuổi côn trùng có hại.

Cây ăn trái kích thích ra rễ nhiều, kéo đọt nhanh, thân, cành, lá phát triển mạnh. Ra hoa tập trung, đậu trái nhiều. Trái lớn nhanh, chắc ruột, nặng ký. Rút ngắn chu kỳ sản xuất, kịp thời vụ, phục hồi nhanh cây sau thu hoạch, suy yếu, kém phát triển để kịp xử lý ra hoa nghịch vụ theo ý muốn. Kháng lại hiện tượng vàng lá, bạc lá, rụng bông, rụng trái do nhiễm phèn, ngập úng, sâu bệnh hại, cây suy yếu, ngủ ngày, nứt thân, xì mủ, da cám, da lu, sượng trái, úng trái...

Cây rau màu ra rễ nhanh, nhú đọt mạnh, lá dày tăng chất lượng rau ăn lá. Ra hoa nhiều đậu trái tốt, lớn trái chắc ruột, nặng ký, năng suất tăng vọt.

Sử dụng phân sinh học Bồ Đề 688, giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho người nông dân. 

c. Quy trình sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 đối với lúa:

Quy trình ngâm và ủ giống bằng phân sinh học Bồ Đề 688:

Bà con ngâm giống bằng nước thông thường trong 14 giờ, tiếp tục ngâm trong dung dịch phân sinh học Bồ Đề 688 thêm 10 giờ nữa với tỉ lệ 1:250 (1 lít phân Bồ Đề 688 pha với 250 lít nước).

Sau khi ngâm xong, vớt ra và ủ thông thường. Trước khi sạ, pha Bồ Đề 688 với tỉ lệ 1:200 (1 lít phân Bồ Đề pha với 200 lít nước) phun thật đều lên lúa giống.

Tác dụng: tăng khả năng nảy mầm, bộ rễ ra mạnh, tăng sức đề kháng cho cây lúa, loại trừ sâu bọ và mầm bệnh gây hại cho lúa. Bà con lưu ý, khi sử dụng phân sinh học Bồ Đề 688 để ngâm và ủ giống thì không cần sử dụng thêm bất cứ loại thuốc BVTV nào khác.

Bảng 3: Quy trình sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 trên cây lúa

Lần phun

Giai đoạn phun Bồ Đề 688

Liều lượng và cách pha

(Bồ Đề/nước) cho 1.000m2

Cách phun

Lần 1

Trước khi sạ 2-7 ngày (phun càng sớm càng tốt)

1000CC/100lít

Phun cho ướt đều trên đất

Lần 2

Sau khi sạ 1-2 ngày

500CC/100lít

Phun cho ướt đều trên đất

Lần 3

Sau khi sạ 10-12 ngày

250CC/50lít

Phun cho ướt đều từ cây xuống đất

Lần 4

Sau khi sạ 20-22 ngày

250CC/50lít

Phun cho ướt đều từ cây xuống đất

Lần 5

Sau khi sạ 30-35 ngày

250CC/50lít

Phun cho ướt đều trên lá

Lần 6

Giai đoạn làm đòng

250CC/50lít

Phun cho ướt đều trên lá

Lần 7

Giai đoạn trổ lát đát

250CC/50lít

Phun cho ướt đều trên lá

Lần 8

Giai đoạn cong trái me

250CC/50lít

Phun cho ướt đều trên lá

Bà con lưu ý, khi phun phân sinh học Bồ đề 688 luôn giữ nước ở mức săm sắp.

Trên đây là lịch bón phân sinh học “Bồ đề 688” áp dụng đối với giồng lúa có thời gian sinh trưởng từ 95-100 ngày. Tùy vào giống lúa, nên điều chỉnh lần phun cho thích hợp.

Cách bón bổ sung phân hóa học:

Bổ sung 30% phân hóa học so với cách bón thông thường (theo tập quán canh tác của bà con  nông dân)

- Sau khi sạ 7-10 ngày : bón (5kg Ure + 3kg DAP)/1.000m2

- Giai đoạn làm đòng: bón (3kg Ure+5 Kali+3kg DAP)/1.000m2

Tùy vào điều kiện canh tác, thời vụ và đặc điểm đất canh tác mà có sự điều chỉnh phân hóa học cho phù hợp với sự phát triển của cây lúa. Trường hợp lúa có phát sinh dịch bệnh thì phun thuốc hoặc phân bón sinh học Bồ Đề 688 bổ sung.

     * Lưu ý:

-       Diệt trừ cỏ dại trước khi phun phân sinh học Bồ đề 688, sử dụng bình sạch để phun.

-       Phun phân sinh học Bồ đề 688 lúc sáng sớm và tốt nhất là chiều mát.

-       Lắc đều bình phân sinh học Bồ đề 688 trước khi sử dụng.

-       Pha phân sinh học Bồ đề 688 với nước và khuấy ngược chiều kim đồng hồ cho phân mau hòa tan với nước.

-       Tuyệt đối không sử dụng phân sinh học Bồ đề 688 khi cây đang trổ bông.

-       Không pha chung Bồ đề 688 với các loại phân bón hoặc thuốc BVTV.

-       Cách ly phân Bồ Đề 688 với phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật từ 2-3 ngày.

 III. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ ĐIỂM

1. Phương tiện thí điểm

  • Ø Giống : giống lúa OM 4218 cấp xác nhận có nguồn gốc từ Viện lúa Đồng bằng sông Cửu long.
  • Ø Các yếu tố khác như đất, nước,…đều trên đồng ruộng
  • Ø Phân bón vô cơ được sử dụng bao gồm các loại phân : phân Urea Phú Mỹ, phân Super lân Long Thành, phân Kali do Canada sản xuất, DAP, NPK.
  • Ø Phân bón sinh học Bồ Đề 688.

2. Thời gian và địa điểm thực hiện:

a. Thời gian thực hiện:

 Mô hình thí điểm ứng dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 trên cây lúa được thực hiện ngoài đồng ruộng ở vụ Hè Thu từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2013.  

b. Địa điểm thực hiện:

Mô hình thí điểm ứng dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 trên cây lúa được thực hiện tại ruộng của các hộ:

- Bùi Văn Năm, ấp Thới Hiệp I, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ

- Ngô Văn Đông, ấp Đông Thới, xã Đông Bình, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ

3. Phương pháp thí điểm:

Đánh giá khả năng cải tại đất, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, tăng khả năng kháng bệnh của cây khi sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688.

 Các chỉ tiêu nông học của cây lúa cần theo dõi:  

- Chiều dài rễ

Thu 5 mẫu lúa của ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và 5 mẫu lúa của ruộng đối chứng, rữa sạch, đặt lên tấm bạt trắng có kẽ vạch đo chiều dài.

Tiến hành đo từ gốc thân đến chóp rễ dài nhất. Đo mỗi cây và tính trung bình chiều dài.

- Chiều cao cây

Sử dụng các mẫu lúa trên, tiến hành đo từ gốc thân đến chóp lá cao nhất của cây. Đo mỗi cây sau đó tính trung bình chiều cao.

- Số chồi

Bắt đầu đếm số chồi khi lúa được 21 ngày, 35 ngày, 49 ngày, lúc lúa chín. Đếm số chồi ở 5 mẫu lúa của ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và 5 mẫu lúa ở ruộng đối chứng.

Các chỉ tiêu năng suất:

- Số bông trên bụi

- Chiều dài bông

- Số hạt chắc trên bông

- Trọng lượng 1.000 hạt

          Cân trọng lượng 1.000 hạt của 5 mẫu lúa ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và 5 mẫu lúa ruộng đối chứng.

- Năng suất cuối vụ

          Lấy ngẫu nhiên 3 điểm trên ruộng, mỗi điểm có diện tích 1m2, của ruộng sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng.

 IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1. Kết quả ghi nhận các chỉ tiêu nông học

a. Chiều dài rễ

Bảng 4: So sánh chiều dài rễ lúa giữa ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng 

Rễ (cm)

Ngày sau sạ (ngày)

14

28

49

Lúa chín

Đối chứng 100% phân hoá học

7.8

12.83

14.21

16.13

Sử dụng Bồ Đề 688

8.5

19.2

21

22.1

Biểu đồ: So sánh chiều dài rễ lúa giữa ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng

     Sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 cây lúa phát triển rất mạnh bộ rễ, nhất là ở giai đoạn 14 đến 28 ngày. Đây là cơ sở để rễ lúa bám sâu vào đất hút chất dinh dưỡng, giúp cây chống đổ ngã. 

b. Chiều cao cây:

Bảng 5: So sánh chiều cao cây lúa giữa ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng 

Cây (cm)

Ngày sau sạ (ngày)

14

28

49

Lúa chín

Đối chứng 100% phân hoá học

14.79

26.08

38.55

55.13

Sử dụng Bồ Đề 688

17.72

35.92

61.46

73.23

Biểu đồ: So sánh chiều cao cây lúa giữa ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng

Phân bón sinh học Bồ Đề 688 giúp cây lúa đạt chiều cao tối ưu. Các chất vi lượng có trong phân bón sinh học Bồ Đề 688 giúp cho quá trình phân chia tế bào kịp thời, giúp cho thân cây lúa cứng chắc.

c. Số chồi

 Bảng 6: So sánh số chồi cây lúa giữa ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng

Chồi

Ngày sau sạ (ngày)

21

35

49

Lúa chín

Đối chứng 100% phân hoá học

1

1.06

1

1

Sử dụng

Bồ Đề 688

2.73

3.06

2.8

1.2

                      Biểu đồ: So sánh số chồi giữa ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng

          Số chồi có chiều hướng tăng lên trong thời kì sinh dưỡng và giảm trong thời kì sinh sản nguyên nhân là do 20% lượng chất khô tích lũy trong hạt được chuyển lên từ cây (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) vì vậy dinh dưỡng không đủ để giữ cho các chồi vô hiệu phát triển. 

Sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 cây lúa đẻ nhánh khoẻ, đạt số chồi hữu hiệu, giúp tiết kiệm lượng giống nhưng vẫn đạt năng suất.2. Kết quả ghi nhận các chỉ tiêu năng suất

a. Số bông trên bụi

Số bông trên bụi tương đương với số chồi hữu hiệu và đạm là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng, số bông trên bụi của ruộng sử dụng Bồ Đề 688 cao hơn ruộng đối chứng có thể là do ở ruộng này có sự đẻ nhánh sớm và lượng đạm được cung cấp tốt hơn làm cho khả năng hình thành chồi hữu hiệu cao hơn.

b. Chiều dài bông

Từ kết quả về chiều dài bông của ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng, ta thấy nếu cung cấp đủ vi lượng cho cây lúa trong thời kỳ làm đòng sẽ giúp cây trổ đều và trổ hết. Mặc dù chiều dài bông lúa chưa nói lên được kết quả năng suất, nhưng nó sẽ cho số hạt trên bông cao hơn.

c. Số hạt chắc trên bông


Số hạt chắc trên bông của ruộng sử dụng Bồ Đề 688 cao hơn hẳn so với ruộng đối chứng, điều đó chứng tỏ Bồ Đề 688 giúp kéo dài thời gian sinh trưởng, tăng khả năng vô gạo và ngửa lem lép hạt.

d. Trọng lượng 1.000 hạt

Bảng 7: So sánh trọng lượng 1.000 hạt giữa ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng

Trọng lượng 1.000 hạt (g)

Đối chứng 100% phân hoá học

25.1

Sử dụng Bồ Đề 688

27


            Cây lúa sử dụng phân bón sinh học
Bồ Đề 688 có thời gian sinh trưởng kéo dài, lá đài vẫn giữ màu xanh khi lúa chín, vô gạo nhanh, hạt lúa chắc tới cậy, hạt sáng bóng, nặng ký, năng suất cao.

3. Năng suất:Lấy ngẫu nhiên 3 điểm trên ruộng, mỗi điểm với diện tích 1m2 , của ruộng đối chứng với ruộng sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688, cho kết quả như sau:

Bảng 8: Hiệu quả năng suất giữa ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng của hộ Bùi Văn Năm
 

 

Ruộng sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688

Ruộng đối chứng

Điểm 1

0.65 kg

0.6 kg

Điểm 2

0.7 kg

0.61 kg

Điểm 3

0.75 kg

0.7 kg

Kết luận: Ruộng sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 cho năng suất cao hơn 70 kg lúa/1.000 m2/vụ so với ruộng đối chứng không sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688.

 
 

Bảng 9: Hiệu quả năng suất giữa ruộng sử dụng Bồ Đề 688 và ruộng đối chứng của hộ Ngô Văn Đông

 

Ruộng sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688

Ruộng đối chứng

Điểm 1

0.8 kg

0.71 kg

Điểm 2

0.77 kg

0.61 kg

Điểm 3

0.9 kg

0.69kg

Kết luận: Ruộng sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 cho năng suất cao hơn 150 kg lúa/1.000 m2/vụ so với ruộng đối chứng không sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688.





 

4. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688

 Bảng 10: Chi phí sử dụng phân bón và các loại thuốc trừ sâu, trừ bệnh trong quy trình canh tác lúa tại hộ: Bùi Văn Năm – Diện tích: 4.500 m2

Loại phân sử dụng

Chi phí

Tổng cộng

Phân bón

Thuốc trừ sâu,

Nhện gié

Thuốc trừ bệnh

 

70% phân Bồ Đề + 30% phân hoá học

Phân Bồ Đề:

11 lít x 135.000

Phân hoá học:

Ure 50 kg x 9.800

DAP 29 kg x 15.000

Kali 9 kg x 10.500

 

 

2.504.500 đ

100% phân hoá học

Ure 120 kg x 9.800

DAP 50 kg x 15.000

Kali 30 kg x 10.500

185.000 x 3

305.000 x 3 lần

3.711.000 đ

Chênh lệch  

Ruộng sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 có chi phí 556.555 đ/1.000 m2/vụ so với 824.666 đ / 1.000 m2/vụ ruộng không sử dụng Bồ Đề 688.

Chênh lệch: 268.111 đ/1.000 m2/vụ 

 

 Bảng 11: Chi phí sử dụng phân bón và các loại thuốc trừ sâu, trừ bệnh trong quy trình canh tác lúa tại hộ: Ngô Văn Đông – Diện tích: 13.000 m2

Loại phân sử dụng

Chi phí

Tổng cộng

Phân bón

Thuốc trừ sâu,

Nhện gié

Thuốc trừ bệnh

 

70% phân Bồ Đề + 30% phân hoá học

Phân Bồ Đề:

25 lít x 135.000

Phân hoá học:

Ure 66 kg x 9.800

DAP 45 kg x 15.000

470.000 x 1

510.000 x 1

5.676.800 đ

100% phân hoá học

NPK 500 kg x 16.000

365.000 x 3

335.000 x 2 lần

9.765.000 đ

Chênh lệch  

Ruộng sử dụng phân bón sinh học Bồ Đề 688 có chi phí 436.676 đ/1.000 m2/vụ so với 751.153 đ / 1.000 m2/vụ ruộng không sử dụng Bồ Đề 688.

Chênh lệch: 314.477 đ/1.000 m2/vụ 

 

 5. Hiệu quả hấp thu các chất dinh dưỡng của cây lúa:

Bảng 12: Hiệu quả hấp thu các chất dinh dưỡng của cây lúa

Ruộng sử dụng Bồ Đề 688

Ruộng sử dụng 100% phân hoá học

Bồ Đề 688 (6% N, 8% P2O5, 8% K2O): 11 lít

0,06 x 11 = 0,66 N , 0,08 x 11 = 0,88 P2O5 , 0,08 x 11 = 0,88 K2O

Phân hoá học:

Ure (46% N): 50 kg => 0,46 x 50 = 23 N

DAP (18% N, 46% P2O5,) 29 kg

=> 0,18 x 29 = 5,22 N

=> 0,46 x 29 = 13,34 P2O5

Kali (60% K2O): 9 kg => 0,6 x 9 = 17,4 K2O

Tổng: 28,88 N, 14,22 P2O5, 6,28 K2O

Ure (46% N): 120 kg => 0,46 x 120 = 55,2 N

DAP (18% N, 46% P2O5,) 50 kg

=> 0,18 x 50 = 9 N

=> 0,46 x 50 = 23 P2O5

Kali (60% K2O): 30 kg => 0,6 x 30 = 18 K2O

Tổng: 64,2 N, 23 P2O5, 18 K2O

Kết luận: Mặc dù phân bón sinh học Bồ Đề 688 có tỉ lệ các chất đa lượng:

N, P2O5, K2O ít hơn so với phân hoá học, nhưng vẫn cho năng suất lúa cao hơn nhờ tính năng vượt trội của phân bón sinh học vô cơ thế hệ mới.

 

 

Một số hình ảnh thực hiện mô hình:

 

 

Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ CỦA NÔNG DÂN

Ông Nguyễn Thanh Hải

Địa chỉ: ấp Đông Mỹ, xã Đông thắng, huyện Cờ Đỏ

“ Đây là vụ lúa thứ hai tôi sử dụng phân bón Bồ Đề 688, vụ này năng suất tăng hơn vụ trước. Tôi thấy ruộng của tôi cũng cải thiện đáng kể tình trạng chai cứng.”

Kiến nghị: “ Cần nhân rộng mô hình cho bà con xung quanh sử dụng và đạt hiệu quả như tôi.”

Ông Bùi Văn Năm

Địa chỉ: ấp Thới Hiệp I, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ

“ Tôi rất mừng vì sử dụng Bồ Đề 688, năm ngoái ruộng lúa của tôi năng suất tương đương năm nay, nhưng chi phí quá nhiều, làm lúa mà không có lời. Năm nay sử dụng Bồ Đề 688 dù giá lúa thấp nhưng tôi vẫn có lời”

Kiến nghị: “ Công ty sớm mở các đại lý tại địa phương để bà con mua phân Bồ Đề được dễ dàng.”

Ông Nguyễn Văn Mừng

Địa chỉ: ấp Thới Trung, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ

“ Lúa của tôi năm nay đạt năng suất khá, mà chi phí lại thấp nữa. Năm sau tôi tiếp tục sử dụng Bồ Đề cho hết diện tích còn lại.

Kiến nghị: “ Công ty tiếp tục cho phân để sử dụng trên các loại cây trồng khác nữa”

Ông Ngô Văn Đông

Địa chỉ: ấp Đông Thới, xã Đông Bình, huyện Thới Lai

“ Tôi sử dụng Bồ Đề được 2 vụ rồi, vụ nào tôi cũng đạt năng suất hết. Năm nay giá lúa rẽ quá nhưng khi sử dụng Bồ Đề có chi phí thấp nên tôi vẫn có lời.”

Bà Nguyễn Thị Xuân

Địa chỉ: ấp Đông Thắng, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ

“ Lúc đầu tôi cũng chưa tin Bồ Đề cho lắm, nhưng ông xã tôi nói có người quen sử dụng tồi, tốt lắm nên tôi dung thử. Kết quả rất tốt, lúa rất ít bệnh, năm nay năng suất lúa ướt đạt hơn năm rồi, tôi  mừng lắm. Vụ sau tôi tiếp tục sử dụng Bồ Đề.”

Ông Đào Hiểu

Địa chỉ: ấp Đông Thắng, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ

“ Vợ tội làm việc ở Chi hội phụ nữ xã, đi hội thảo về kêu tôi sử dụng Bồ Đề, lúc đầu tôi cũng ngại không biết có tốt không. Nhưng qua thời gian sử dụng tôi thấy không có sản phẩm nào mà khi sử dụng, bộ rễ phát triển tốt như vậy, đất lịa tới xốp nữa.”

Bà Nguyễn Thị Bích Phượng

Địa chỉ: ấp Thới Hiệp, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ

“ Ban đầu khi biết về Bồ Đề tôi rất hào hứng về bàn với ông xã sử dụng, nhưng ông xã tôi lo ngại phân có tốt không, cuối cùng quyết định sử dụng thử 1 ha, kết quả năng suất cao hơn so với năm trước khi sử dụng Bồ Đề mà chi phí lại thấp. Năm nay vợ chồng tôi quyết định sử dụng toàn bộ diện tích 9 ha bằng Bồ Đề 688.”